Ở Nam Bộ, kể cả dân gốc gác tại chỗ hoặc những người từ xứ xa "tới đây thì ở lại đây" đều nằm lòng câu tán dương khi nghe đờn ca tài tử vọng cổ sáu câu: Ca xuống xề nghe "ngọt" quá! Đờn nghe "muồi" quá ! Hai tính từ biểu cảm mang đặc thù Nam Bộ này được chuyển hóa từ trạng thái vị giác sang trạng thái thính giác ở cấp độ cao, nói lên sự khoái cảm đến say mê, cái "đã" của người thưởng thức, cái tài nghệ của nghệ sĩ và chỉ xuất hiện khoảng 80 năm nay, tức sau khi bài Dạ Cổ Hoài Lang (nay là Vọng cổ) - bài nòng cốt trong 20 bàiTổ của đờn ca tài tử ca nhạc Cải lương: Nhạc sĩ tài hòa Cao Văn Lầu sáng tác bài Dạ Cổ Hoài Lang tại quê hương Bạc Liêu (1919) - lan nhanh ra ở Nam Bộ, nay phổ biến cả nước. Nghệ sĩ nhân dân út Trà Ôn được tôn vinh là "Đệ nhất danh ca miền Nam", "Vua vọng cổ" nổi danh từ nửa thế kỷ nay từ bài Vọng cổ.
Tại sao người ta mê Vọng cổ, Cải lương? Về lịch sử, vào khoảng năm
1885, khi Vua Hàm Nghi xuất bôn, một nhạc quan của triều đình Huế là
Nguyễn Quang Đại (Nam Bộ gọi là Ba Đợi) vào Nam Kỳ ở vùng Đa Kao, Sài
Gòn, rồi xuống miệt Cần Đước, Cần Giuộc (tỉnh Chợ Lớn) rồi lại trở lên
sống và qua đời tại Hộ 16 (quận 8, TP.HCM) ngày nay. Ôn dạy, phổ biến
nhạc lễ, nhạc tài tử, có cải biên. Các thế hệ học trò của ông rất đông
ở nhiều nơi, nhiều người nổi danh như: Sáu Thới (thầy giáo của Giáo
Thinh), Năm Xem (ông ngoại nhạc sĩ Hai Biểu), Ba Đồng (Chợ Lớn), út
Lăng (Bình Dương), lớp sau đó: Tư Huyện, Bảy Hàm, Tự Tụi, Văn Vĩ, Sáu
Thoàn...
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ở Nam Bộ đã hình thành 2 nhóm ca nhạc
tài tử và tranh đua với nhau về nghệ thuật, ra sức cải tiến, nâng cao
sáng tác thêm nhiều bài bản mới bổ sung vào. Trưởng nhóm miền Tây là
ông Trần Quan Quờn (Ký Quờn), trưởng nhóm miền Đông là ông Ba Đợi
(Nguyễn Quang Đại). Ông Ba Đợi có công lớn, đã cùng các văn nhân và học
trò giỏi ra sức nghiên cứu, cải biên các bài bản gốc của ca nhạc Cung
đình huế, bằng cách giản dị hóa lối ấn nhịp (nhịp hội, nhịp ngoại, nhịp
lơi) song vẫn tôn trọng lòng bản, để tạo một nhịp điệu hòa hợp với ngôn
ngữ, phong cách của dân Nam Bộ, dễ thâm nhập vào quần chúng. Ông Ba Đợi
thường nhắc nhở học trò:"Lễ phải có Nghi. Nhạc phải có Hòa. Tiếng đàn
phải đủ trầm, bổng, nhặt, khoan".
Nếu nhạc lễ Cung đình biểu trưng cho nền văn minh, văn hóa Phú
Xuân, thi ca nhạc tài tử, cải lương biểu hiện cho văn minh, văn hóa Nam
Bộ. Các nhà nghiên cứu: Sơn Nam, Giáo sư Huỳnh Minh Đức, nhạc sĩ Vũy
Chỗ, luật sư nhạc sĩ Tấn Nhì... đều cho rằng nhạc tài tử Nam Bộ dựa
theo học thuyến Âm - Dương ngũ hành với ngũ cung: Giốc: Hò (Mộc), Chủy:
Xự (Hỏa), Cung: Xang (Thổ), dựa trên nền tảng lễ nghĩa, đạo đức phương
Đông mang trong mình cái gốc luân lý, mục tiêu đào tạo cung cách làm
người. Nó vừa mang nét trang trọng cung kính của nhạc lễ vừa dịu êm
ngọt ngào dễ hòa vào tâm hồn những con người vừa định cư ở vùng đất mới
mà lòng không nguôi thương nhớ quê cũ làng xưa. Nó phù hợp vì rất đa
dạng đáp ứng được mọi khía cạnh tình cảm con người, hoàn cảnh cuộc đời.
Có đủ 4 điệu: Bắc, Hạ, Nam, Oán, 4 hơi: Xuân, Ai, Đào, Ngự, chia ra 3
Nam, 6 Bắc, 4 Oán, 7 Bài (Ngự)... Vẫn bản nhạc đó, người ta chỉ cần
thay lời mới là sát hợp trong mọi hoàn cảnh: quan, hôn, tang, tế, biệt
ly, thất tình, thất sủng... nên rất đắc dụng, nên tồn tại và phát triển
hàng thế kỷ nay và sẽ lưu truyền mãi mãi. Vì nó là tiếng lòng.
Mục đích của các bạn đờn ca tài tử là phục vụ vô tư cho các lễ hội,
đình ám, đám cưới, đám giỗ, buổi tiễn đưa tân binh, đơn vị bộ đội lên
đường đánh giặc... không vụ lợi, không cần thù lao, gọi là "giúp vui",
mang tính cộng đồng sâu sắc, bình đẳng giữa mọi người. Ai biết đờn thì
đờn, biết ca thì ca, một bài cũng được, thậm chí đờn ca có lỡ "rớt"
nhịp cũng chẳng ai chê cười mà còn động viên cố gắng. Những người không
biết đờn ca, đủ cả trẻ già trai gái, cả người đi đường thích thì tham
gia, cũng tự nhiên đến ngồi nghe với thái độ chăm chú thưởng thức càng
động viên các tài tử ca đời càng hay hơn, nếu lâu lâu có bánh trái, trà
lá bồi dưỡng cho ban tài tử càng tốt. Ban tài tử nào, ở ấp, xã nào cũng
có đông đảo khán, thính giả trung thành. Cuộc chơi không hạn định giờ
giấc. Đến khuya, khi mọi người cảm thẩy thỏa mãn thì chia tay ra về,
hẹn lại vào buổi tối hôm sau.
Cứ như vậy thành lệ. Không ai bảo ai, hàng ngày làm lụng vất vả
trên đồng ruộng, hoặc có chuyện đi xa, đến chiều phải tranh thủ về để
kịp có mặt tham gia hoặc thưởng thức buổi đờn ca tài tử. Năm này tháng
nọ cũng lặp lại những bài bản củ - lâu lâu mới có lời ca mới - nhưng
người đờn lẫn người nghe vẫn không ai thấy chán, mà trái lại họ như bị
ghiền (nghiện) không có không được. Thỉnh thoảng, để "thay đổi không
khí" vài người giỏi chữ nghĩa, nắm vững bài bản vừa sáng tác vừa ca,
gọi là "Văn sống" rất được hoan nghênh. Nhiều nam, nữ thanh niên sáng
dạ nghe riết thuộc lời, thuộc giọng, được vào ca, được truyền nghề. Ông
Trượng - Tiên Bửu, Bùi Kiệm - Nguyệt Nga, Lan - Điệp, Tôn Tẫn giả
điên... là những bài vỡ lòng. Mỗi người tự giác rèn luyện tiếng đờn,
lời ca cho thêm trau chuốt ngọt ngào.
ở Cần Giuộc, xóm ấp nào cũng có ban đờn ca tài tử, nòng cốt từ
những người giỏi đờn ca tập hợp lớp trẻ làm thầy truyền nghề trực tiếp.
Khi có lực lượng đờn ca khá, ai cũng muốn thi thố tài năng bằng cách mở
rộn giao lưu với ban nhạc các ấp, xã khác. Bí quyết chắc thắng là phải
vững nhịp mới tránh được "nhịp lọt" khỏi bị rớt khi gặp đối thủ có bản
lĩnh đờn nhử, đờn phá. ở Cần Đước có Sáu Nữa nổi tiếng đờn nhịp lọt.
Thú chơi đờn ca tài tử còn vì phong cảnh hữu tình, gợi cảm, gần với
thiên nhiên. Ngoài số cuộc chơi ở các lễ hội đình đám ngồi bộ ván trải
chiều bông nghiêm trang, phần nhiều các ban ca nhạc tài tử thích chơi
giữa cảnh trời trăng mây nước. Có thể dưới bóng mát gốc me, gốc xoài,
gió lộng, trên gò đất cao cạnh ao làng được bao bọc bốn bề là đồng lúa
xanh tươi, vàng rực. Hay trên chiếc thuyền trôi xuôi êm ả theo dòng
nước lồng lộng trăng rằm, nên thơ tĩnh mịch, tiếng lá dừa nước hai bên
bờ rì rào dịu êm như nền nhạc đệm làm tăng vẻ hữu tình cho buổi đờn ca
tài tử trên sông.
Hò ơi!... Gió đưa con buồn ngủ lên bờ, Mùng ai có trống (xin) cho ngủ nhờ một đêm!
Câu hò huê tình nhẹ nhàng có ý trêu chọc bâng quơ của chàng thanh
niên nào đó thường cũng là câu mở đầu đánh giá cho bài ca Văn Thiên
Đường, Trường Tương Tư, hay vọng cổ Tình anh bán chiếu... Tiếng đời,
lời ca ngân nga hòa quyện vào làn gió lan tỏa mãi trên mặt sông đầy.
ở nông thôn Nam Bộ, việc biết đờn ca tài tử như là lẽ đương nhiên.
Trên đường đi càu, đi cấy gặt lúa, nhất là khi chèo xuồng một mình trên
sông rộng, hay chống cuồng ba lá thanh thoát giữa rừng rậm U Minh hoặc
trong mênh mông đồng nước Tháp Mười, không ai giấu nổi tình cảm trắc ẩn
riêng tư. Những bài ca vọng cổ nằm lòng, bài ruột sẽ được trào dâng,
thậm chí có bài nội dung không dính dáng gì với hoàn cảnh thực tại vẫn
ca "chay" (không có đệm đờn) vẫn phóng khoáng lời ca có sức truyền cảm
lạ lùng. Không có ai nghe thì ca cho "mình ên" nghe cho đã. Vì "nghệ
sĩ" trước tiên là người thưởng thức sản phẩm của chính mình.
"Nhìn trời hiu quạnh rừng đêm sương gió lạnh; hướng quê nhà lòng
thêm chạnh nỗi niền riêng"... Sầu vương Biên ái, nói lên tâm trạng
người chiến binh đồn trú nơi biên cương nhớ quê nhà. "Hận sông Gianh"
rất được thường dùng khi đất nước còn nỗi đau chia cắt hai miền Nam -
Bắc. Lãng mạn cách mạng không gì qua bài "Dệt chặng đường Xuân" ca ngợi
anh chị giao liên liên lạc quan trong gian khổ hy sinh, ngày đêm như
con thoi khắp sông rạch, đồng bưng của khu Tây Nam Bộ kiên cường hết
lòng đánh giặc. Thời đánh Mỹ, nhiều cán bộ, chiến sĩ Giải phóng quân
súng đạn oằn vai trên đường hành quân ra trận vẫn mở radio bỏ túi nghe
6 câu vọng cổ "Long An xanh màu lá mạ" trong cảnh bom đạn Mỹ tàn phá
quê hương, "Bài ca Trường Sơn" nỗi lòng người con người con An Gian Nam
Bộ đang đứng trên đỉnh Trường Sơn thương nhớ về Bảy Núi quê nhà mà khắc
ghi mối căm thù, tự động viên mình, động viên đồng đội quyết chiến
quyết thắng.
Lời ca của bản Vọng cổ cũng được trau chuốt, súc tích trữ tình như
thơ. Cô giao liên đưa "chiến sỉ qua sông Sài Gòn như chở trăng mây
trời" sang sông. Chị du kích "sau đợt chống càn, bầu sữa căng, về nhà
cho con bú không quên hái bông sen hồng mọc lên trong hố bom đìa" giành
tặng con yêu. Anh hùng đến độ lạ thường. Coi việc đánh giặc như nhổ cỏ
bắt sâu hàng ngày ở vườn cà, ruộng lúa... Vọng cổ tài tình như vậy,
chính trị, triết lý, đạo lý nhân bản sâu sắc thời đại.
Bởi vậy, không chỉ giới công, nông, binh mà cả giới trí thức gần
thế kỷ nay ở Nam Bộ rất yêu thích và tham gia học đời ca tài tử, cải
lương. Những học trò nổi danh của thầy Ba Đợi, thầy Sáu Lầu có nhiều
thầy thông, thầy ký, đốc học, hương chức hội tề. Vì đờn ca tài tử vừa
bình dân, vừa cao cấp, vừa gần gũi, vừa thâm sâu, lời ca nguyện chặt
tiếng đờn, tiếng nâng bổ lời ca mang theo cả tâm hồn nghệ sĩ, người
thưởng thức. Tôi đã được nghe các ban, các CLB đờn ca tài tử của các
huyện, thị ở Long An, CLB đờn ca tài tử thị xã Cà Mau, CLB đờn ca tài
tử Cao Văn Lầu - thị xã Bạc Liêu... cây đờn ghi ta điện phím lõm có xôm
tụ, nhưng không thay được các cây đờn: Cò, Kìm, Tranh, Sến cổ truyền
vẫn luôn là chủ đạo.
Giáo sư Trần Văn Khê đã có nhận xét rất chính xác: "... chân phương
hoa lá trong bài vọng cổ đã được áp dụng một cách thần tình. Hoa chẳng
những đẹp mà còn thơm. Lá chẳng những xanh mà còn tươi. Thành ra bản
Vọng cổ có cái tươi máy, cái đẹp đẽ, có cái phong phú, cái dồn dào mà
sức sống, sức đóng góp của tất cả những người nghệ sĩ, từ đứa con của
bác Sáu Lầu sáng tạo, nuôi dưỡng cho nó lớn lên mạnh mẽ, nó đẹp đẽ..."
Đó chính là ma lực, sức hấp dẫn, làm say mê lòng người, ai biết qua rồi
khó lòng bỏ được. Vì nó là bản sắc văn hóa Nam Bộ, văn hóa Việt Nam.